Thế giới

Vì sao kinh tế toàn cầu khó “cất cánh” sau đại dịch?

TTXVN
(ĐTTCO) - Virus SARS-CoV-2 không phải là "lực cản" kinh tế duy nhất. Những áp lực liên quan đến lạm phát sẽ tiếp tục đè nặng lên kinh tế toàn cầu, kể cả khi COVID-19 đã bị bỏ lại phía sau.

Bốc dỡ container hàng hóa tại cảng Botany ở Sydney, Australia. Ảnh: AFP/TTXVN

Bốc dỡ container hàng hóa tại cảng Botany ở Sydney, Australia. Ảnh: AFP/TTXVN

Khi đại dịch COVID-19 qua đi, một sự bùng nổ về kinh tế là những gì mà người ta chờ đợi. Tuy nhiên, giới phân tích lại cho rằng mọi chuyện không đơn giản như thế. 

Nguyên nhân là do virus SARS-CoV-2 không phải là "lực cản" duy nhất. Những áp lực liên quan đến lạm phát sẽ tiếp tục đè nặng lên kinh tế toàn cầu, kể cả khi COVID-19 đã bị bỏ lại phía sau. 

* Không phải tất cả lợi ích kinh tế của Pandexit là tuyệt đối

Trong tiếng Anh, hậu tố "exit" được sử dụng để chỉ sự rời đi. Quốc gia đầu tiên sử dụng hậu tố này là Hy Lạp với cụm từ Grexit, đề cập đến mong muốn rời khỏi Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone). Sau Grexit là Italexit, song cụm từ này chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn và cả hai đều không thành công. Tương tự là Frexit, với việc Pháp từng muốn đơn phương rút khỏi Liên minh châu Âu (EU). 

Cho đến nay mới chỉ có Brexit, chỉ việc Anh rời EU, là thực sự xảy ra mặc dù các cuộc thăm dò vào tháng 5/2016, một tháng trước khi diễn ra cuộc trưng cầu dân ý tại Vương quốc Anh, cho thấy có nhiều cử tri Pháp (61%) hơn là cử tri Anh (48%) tỏ ra không hài lòng với EU.

Tất cả những hành động hoặc tư tưởng muốn thoát ly này đều được hầu hết các chuyên gia kinh tế đánh giá là tiêu cực. Tuy nhiên, sau nhiều năm giằng co giữa đi và ở, cả châu Âu hiện đang đối mặt với cùng một thách thức nghiêm trọng mang tên COVID-19.

Khi sự xuất hiện của các loại vaccine phòng COVID-19 mở ra những hy vọng mới, mọi sự chú ý lại đang đổ về một chủ đề cũng có hậu tố "exit", song lại được mong chờ hơn rất nhiều. Đó là Pandexit - chỉ việc kinh tế toàn cầu từng bước rũ bỏ những tác động tiêu cực của đại dịch.

Pandexit là niềm hy vọng để COVID-19 ở lại phía sau và đưa cuộc sống quay trở lại guồng quay truyền thống với những màn chào hỏi, ôm hôn quen thuộc hay những chuyến tàu điện, xe lửa chạy xuyên suốt các thành phố.
Giới quan sát khá tin tưởng vào những tác động tích cực của Pandexit.

Các chuyên gia nghiên cứu tại Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) ước tính đại dịch đã tước đi khoảng 8% sản lượng kinh tế ở các nước phát triển trong năm 2020 và con số này được dự báo sẽ giảm thêm hơn 2% trong năm nay. 

Sự thoải mái di chuyển cùng việc nới lỏng các biện pháp hạn chế sẽ giúp thúc đẩy xu hướng phục hồi mạnh mẽ vào năm 2022, với mức độ khác nhau ở từng quốc gia tùy thuộc vào tỷ lệ nhiễm COVID-19 và tốc độ tiêm chủng. 

Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa là sự gia tăng của các đợt tái bùng phát COVID-19 sẽ một lần nữa tạo ra những cơn rung chấn về kinh tế nếu diễn biến này buộc các chính phủ phải ban hành các lệnh phong toả. 

Trong khi đó, không phải tất cả lợi ích kinh tế của Pandexit là tuyệt đối. Trong cả những kịch bản tích cực nhất, các thống đốc ngân hàng trung ương vẫn tỏ ra lo lắng và họ đã nhận thấy những rủi ro đáng kể.

Giám đốc của BIS Agustín Carstens cho biết: "Các nhà hoạch định chính sách vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức khi tỷ lệ nợ công và nợ tư nhân đang ở mức rất cao, trong khi những tác động tiêu cực mà đại dịch để lại là rất lớn".

Điểm mấu chốt của nhận định này, theo Giám đốc Carstens, là những thiệt hại về kinh tế do đại dịch COVID-19 tạo ra đã được giảm nhẹ nhờ "các chính sách kinh tế vĩ mô lớn chưa từng có" như lãi suất thấp, quy mô nới lỏng định lượng lớn, đi cùng với các chính sách hỗ trợ tài khóa dồi dào.

Mức độ hỗ trợ ngân sách khác nhau giữa các quốc gia, chẳng hạn ở Mỹ lớn hơn nhiều so với ở châu Âu. Tuy nhiên, nợ chính phủ đã tăng mạnh ở khắp các quốc gia trên thế giới và hiện đang ở mức lớn chưa từng có ở các nước như Italy và Nhật Bản.

Trong khi đó, nhận thức sâu sắc về tác động của cuộc khủng hoảng khí hậu đã buộc các chính phủ, doanh nghiệp, học giả và người dân phải đánh giá lại các giả định cũ nhằm vạch ra những đường hướng phát triển mới. Sứ mệnh đưa phát thải ròng về mức 0 chỉ mới bắt đầu.

Tại Hội nghị Cấp cao Mới (hội nghị khí hậu do Project Syndicate tổ chức), các diễn giả sẽ thảo luận về những thách thức và cơ hội đang chờ đợi trước thời điểm quan trọng để hành động vì khí hậu toàn cầu. * Hai kịch bản thoái trào nguy hiểm

Trong bối cảnh đó, BIS đã xác định hai kịch bản thoái trào nguy hiểm. Kịch bản đầu tiên là rủi ro về dịch tễ học. Các biến thể mới của virus SARS-CoV-2 có thể xuất hiện, đòi hỏi nền kinh tế phải tiếp tục đóng cửa và tăng cường hỗ trợ tài chính.

Điều này có thể không khả thi đối với một số chính phủ bởi họ đối mặt với nhiều sức ép về kinh tế và chính trị. Bởi vậy, nếu xảy ra những đột biến liên quan đến đại dịch, các quốc gia cần tìm cách xử lý tốt nhất có thể và hy vọng rằng việc tiêm phòng sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong.

Kịch bản thứ hai có khả năng xảy ra hơn đó là tiếp tục mở cửa nền kinh tế, dẫn đến những áp lực về giá cả hiện tại tăng lên, buộc các ngân hàng trung ương phải phản ứng bằng các chính sách tiền tệ.

Tính đến tháng Bảy, lạm phát giá tiêu dùng ở Mỹ là 5,4%. Chỉ số Baltic Dry Index, đo lường giá thuê các con tàu lớn vận chuyển hàng khô như quặng sắt, than và ngũ cốc, đã tăng khoảng 170% trong năm nay. Trong khi đó, những hạn chế về nguồn cung đang xuất hiện ở nhiều khu vực.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và các ngân hàng trung ương khác cho rằng sự gia tăng lạm phát này là nhất thời. Tuy nhiên, ngạn ngữ Pháp có câu "Rien ne dure comm le provisoire", có nghĩa là "Không gì kéo dài là tạm thời". Trong bối cảnh đó, nếu nhận định của các ngân hàng trung ương là sai, như cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Larry Summers và những nhiều người khác quả quyết, rủi ro sẽ xuất hiện. 

Việc thắt chặt chính sách tiền tệ trong giai đoạn Pandexit sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng hơn bình thường. Do các ngân hàng trung ương đang tích tụ quá nhiều nợ, thời gian đáo hạn trung bình của trái phiếu chính phủ đã được rút ngắn, khiến bảng cân đối kế toán của khu vực công trở nên nhạy cảm hơn bình thường đối với những thay đổi trong lãi suất ngắn hạn. 

Đồng thời, các chính phủ sẽ không hài lòng với việc các ngân hàng trung ương thắt chặt chính sách, vì điều này có thể gây ra những hậu quả trực tiếp về tài chính.

Ngoài ra, việc thắt chặt tiền tệ ở các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, sẽ là điều không mong muốn đối với các thị trường mới nổi. Hầu hết những quốc gia này vẫn đang chật vật để kiểm soát đại dịch và có tỷ lệ tiêm chủng COVID-19 thấp hơn nhiều so với châu Âu và khu vực Bắc Mỹ, bất chấp những tín hiệu gần đây cho thấy các nước giàu sẵn sàng chia sẻ kho dự trữ vaccine của mình.

Trong đại dịch, cả thế giới đều phải đối mặt với những thách thức tương tự nhau và sự kết hợp các chính sách mà chính phủ đã sử dụng nhìn chung cũng giống nhau. Tuy nhiên, trong thời kỳ Pandexit, tất cả những điều này sẽ thay đổi. Những biện pháp có thể phù hợp đối với các quốc gia có tỷ lệ nhiễm COVID-19 thấp và một mức nợ công có thể kiểm soát được có thể gây ra thảm họa nền kinh tế của các quốc gia khác.

Do đó, Giám đốc Carstens kêu gọi việc bình thường hóa chính sách tiền tệ phải được thực hiện một cách "rất từ từ", mặc dù ông vẫn khẳng định tính ưu việt của kiểm soát lạm phát và sự độc lập của các ngân hàng trung ương. 

Ông nói thêm rằng thế giới sẽ cần phối hợp chính sách quốc tế nhiều hơn. Đây là điều dường như đã bị lãng quên kể từ khi đại dịch xuất hiện.

Các tin, bài viết khác